Mô tả
CHÚ Ý: SẢN PHẨM ĐƯỢC ĐÓNG GÓI BẰNG TÚI, KHÔNG CÓ HỘP
Panzer II là một loại xe tăng hạng nhẹ do Đức Quốc xã sản xuất và sử dụng trong thế chiến II. Tên chính thức của nó bằng tiếng Đức là Panzerkampfwagen II (viết tắt là PzKpfw II). Mặc dù được chỉ thị dừng sản xuất ngay từ những năm 1940 – 1941, nhưng Panzer II vẫn đóng một vai trò rất quan trọng trong các chiến dịch Ba Lan và Pháp. Vào cuối năm 1942, dây chuyền sản xuất Panzer II đã bị dừng lại, nhưng phải đến năm 1943, việc này mới chấm dứt hoàn toàn. Khung tăng của nó được sử dụng cho một vài phương tiện chiến đấu khác trong cuộc chiến.
Vào năm 1934, việc thiết kế Panzer III và Panzer IV bị trì hoãn do các vấn đề thiết kế. Việc chế tạo một loại tăng có tốc độ di chuyển nhanh, vũ khí trung bình, trọng lượng được xếp vào hạng nhẹ được giao cho các nhà máy như Krupp, MAN, Henschel và Daimler-Benz. Bản thiết kế cuối cùng được đưa ra đó chính là Panzer-II, được dựa trên Panzer-I nhưng vũ khí là một khẩu pháo chống tăng 20 mm. Việc sản xuất bắt đầu vào năm 1935, nhưng quy trình tốn thêm 18 tháng để chuẩn bị cho quá trình vận chuyển và chế tạo nguyên liệu.
Panzer II là loại tăng chiếm số lượng nhiều nhất trong cuộc xâm lược nước Pháp, cho đến khi nó bị thay thế bởi Panzer III vào năm 1940 – 1941. Về sau, nó được dùng làm xe tăng do thám và thực hiện nhiệm vụ này rất xuất sắc.
Panzer II được quân đội Đức Quốc xã sử dụng ở mọi chiến dịch như Ba Lan, Pháp, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Na Uy, Bắc Phi và mặt trận phía Đông. Sau khi bị thay thế ở vị trí xe tăng chủ lực, nó được dùng làm xe tăng bảo vệ lãnh thổ, trong nước và luyện tập. Phần khung tăng được dùng làm sườn cho các loại pháo tự hành như Wespe và Marder II.
Panzer II phiên bản A, B và C đều được bọc bằng một lớp thép đồng nhất với độ dày khoảng 14 mm ở các mặt trước – sườn – sau; dày 10 mm ở phần đỉnh và tháp pháo. Từ phiên bản Ausf. D, lớp giáp này được tăng lên 30 mm. Phiên bản F có lớp giáp trước dày 35 mm và lớp giáp sườn dày 20 mm.
Hầu hết các phiên bản Panzer II đều được trang bị pháo chính 20 mm KwK 30 L/55 nòng dài, các phiên bản đời sau sử dụng pháo 20 mm KwK 38 L/55 có chức năng tương tự. Khẩu pháo này được thiết kế dựa trên pháo phòng không 20 mm FlaK 30 và có thể bắn được 280 viên đạn/phút. Panzer II còn được trang bị một súng máy 7,92 mm Maschinengewehr 34 lắp đồng trục.
Tất cả các phiên bản Panzer II được sản xuất đều được lắp động cơ xăng 6 xi-lanh Maybach HL 62 TRM có công suất 140 mã lực và bộ truyền động ZF Friedrichshafen. Các mẫu A, B và C đều có tốc độ tối đa đạt 40 km/h. Mẫu D và E có hệ thống treo Christie và hệ thống truyền động tốt hơn, khiến cho tốc độ tối đa đạt đến 55 km/h, nhưng tốc độ di chuyển trên đường đất có vẻ chậm hơn so với các phiên bản đầu nên mẫu F được cải tiến lại bằng hệ thống treo thanh xoắn. Tất cả các phiên bản đều có tầm hoạt động khoảng 200 km.
Panzer II có kíp chiến đấu gồm 3 người. Người lái ngồi phía trước thân. Chỉ huy xe tăng ngồi ở ghế tháp pháo và kiêm luôn xạ thủ ngắm bắn pháo chính. Người thay đạn (kiêm luôn việc điều khiển radio) ngồi ở trên sàn xe tăng dưới tháp pháo.
Bộ sản phẩm bao gồm 356 chi tiết.
Sản phẩm sau hoàn thành có kích thước 14 cm









