Bộ xếp hình xe tăng 2 trong 1 Xe tăng hạng nặng Tiger 2 Königstiger – Pháo tự hành chống tăng Jagdtiger 930 chi tiết

382.000 

Tiger II là tên thường gọi của Panzerkampfwagen Tiger Ausf. B, một loại xe tăng hạng nặng, trong khi Panzerjäger Tiger Ausf. B Jagdtiger (Sd. Kfz. 186) là tên một loại pháo tự hành hạng nặng Đức trong Thế chiến II.

Còn 1 trong kho

Mô tả

CHÚ Ý: SẢN PHẨM ĐƯỢC ĐÓNG GÓI BẰNG TÚI, KHÔNG CÓ HỘP

Tiger II là tên thường gọi của một loại xe tăng hạng nặng Đức trong Thế chiến II. Tên định danh chính thức của Đức là Panzerkampfwagen Tiger Ausf. B, thường được gọi tắt là Tiger B, với tên định danh lưu trữ Sd.Kfz. 182. Nó cũng thường được biết đến với cái tên không chính thức Königstiger (tên tiếng Đức cho “hổ Bengal”), thường được người Mỹ dịch là King Tiger, và Anh Quốc là Royal Tiger.

Thiết kế theo cùng ý tưởng như Tiger I, nhưng được dự định để có tính năng cao hơn. Tiger II kết hợp giáp dày của Tiger I cùng với giáp nghiêng của Panther. Chiếc xe tăng nặng gần 70 tấn, là loại xe tăng nặng nhất trong thế chiến 2. Nó được bảo vệ bởi giáp phía trước dày 166 mm và được trang bị pháo 8.8 cm Kampfwagenkanone 43 L/71. Nói cách khác, Tiger II chính là sự kết hợp giữa Panther và Tiger I .

Việc phát triển một bản thiết kế xe tăng hạng nặng đã được đưa ra năm 1937; hợp đồng thiết kế ban đầu được trao cho Henschel. Một hợp đồng khác tiếp theo vào năm 1939, và được trao cho Porsche. Cả hai loạt nguyên mẫu đều sử dụng thiết kế tháp pháo từ Krupp; những khác biệt chính là thân vỏ, hệ truyền động, hệ thống treo và các đặc điểm máy móc. Cuối cùng, Henschel giành được hợp đồng, và tất cả những chiếc Tiger II đều được sản xuất bởi công ty này.

Tiger II được trang bị pháo 8.8 cm KwK 43 L/71. Cộng với kính ngắm Turmzielfernrohr 9d (TZF 9d) nó là một vũ khí rất chính xác và chết người. Trong thử nghiệm, khả năng chính xác ước tính của viên đạn đầu tiên vào một mục tiêu cao 2m, rộng 2.5m chỉ dưới 100% ngoài tầm 1000m, ở mức 95–97% ở 1500m và 85–87% ở 2000m, tuỳ thuộc vào kiểu đạn. Tính năng chiến đấu được ghi nhận trong thực tế thì kém hơn, nhưng vẫn trên mức 80% ở khoảng cách 1,000 m, ở mức 60% ở 1,500 m và 40% ở khoảng cách 2,000 m. Khả năng xuyên tấm giáp nghiêng 30 độ là 202 và 132mm ở khoảng cách 100 và 2000m với đạn xuyên giáp Panzergranate 39/43 (PzGr—đạn xuyên giáp), và 238 và 153mm với đạn xuyên giáp cao cấp (lõi tungsten) PzGr. 40/44 trong cùng khoảng cách. Đạn có đương lượng nổ cao Sprenggranate 43 (SpGr) có thể được sử dụng cho các mục tiêu mềm, hay Hohlgranate hay Hohlgeschoss 39 (HlGr—HEAT hay đạn đầu đạn chống tăng đương lượng nổ cao), có khả năng xuyên giáp 90mm ở bất kỳ khoảng cách nào có thể được sử dụng như đạn lưỡng dụng chống lại các mục tiêu mềm hay xe thiết giáp hạng nhẹ.

Tốc độ quay tháp pháo nhanh có được nhờ động cơ thủy lực kết nối với động cơ chính; một vòng xoay tròn có thể được thực hiện trong 19 giây khi động cơ ở chế độ chờ, và trong vòng 15 nếu động cơ ở tốc độ hoạt động tối đa cho phép. Việc di chuyển tháp pháo bằng động cơ được dùng để nhanh chóng đưa mục tiêu vào trong tầm ngắm của súng, nhưng những điều chỉnh thêm khi di chuyển và nâng nòng súng được thực hiện bằng bánh tay quay của pháo thủ. Nếu mất động cơ, tháp pháo có thể di chuyển chậm bằng tay, được hỗ trợ bởi người nạp đạn cũng có một bánh xe quay khác.

Panzerjäger Tiger Ausf. B Jagdtiger (Sd. Kfz. 186) là tên một loại pháo tự hành hạng nặng thuộc sư đoàn Jagdpanzer phục vụ lực lượng quân đội Đức Quốc xã từ năm 1944 đến cuối cuộc chiến (ở cả hai mặt trận). Jagdtiger được bọc giáp rất tốt và trang bị pháo cực lớn, đây là loại pháo tự hành bọc giáp nặng nhất được sản xuất hàng loạt trong thế chiến II.

Việc phát triển Jagdtiger chủ yếu là do sự thành công của StuG-III trên chiến trường lúc bấy giờ, bộ chỉ huy Đức Quốc xã lo sợ Liên Xô sẽ đưa ra một loại pháo tự hành khác để đối chọi với StuG-III nên đã yêu cầu tập đoàn Porsche thiết kế và sản xuất gấp Jagdtiger.

Jagdtiger được lắp trên khung xe tăng Tiger II, tuy nhiên Jagdtiger có kéo dài thêm khung tăng ra để có nhiều chỗ trống hơn. Kết quả là Jagditger có thể chứa nhiều nhiên liệu hơn, có thể bọc được giáp rất dày và lắp được pháo 12.8cm PaK 44 L/55-có thể hạ gục bất cứ loại thiết giáp nào từ khoảng cách 3500m. Jagdtiger có giáp mặt sườn và phía trước dày đến hơn 250mm, phần tháp dày 150mm. Pháo chính của Jagdiger chỉ có thể nâng được khoảng 30 độ.

 

Bộ gồm 930 chi tiết.

Sản phẩm sau hoàn thiện có kích thước:

+ Tiger II: 32,2 cm

+ Jagdtiger: 31,4 cm