Mô tả
CHÚ Ý: SẢN PHẨM ĐƯỢC ĐÓNG GÓI BẰNG TÚI, KHÔNG CÓ HỘP
Pháo phản lực Katyusha (tiếng Nga: Катю́ша), hay còn được gọi ở Việt Nam là là pháo Cachiusa, là một loại pháo phản lực (rocket – hỏa tiễn) được thiết kế bởi Georgy Langemak chế tạo bởi Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
So sánh với các loại pháo truyền thống, Katyusha có khả năng oanh tạc một diện tích rộng trong thời gian rất ngắn với sức công phá cao, đổi lại là độ chính xác thấp và thời gian chờ nạp đạn lâu. Ngoài ra, dàn phóng hỏa tiễn hàng loạt này có ưu điểm là rẻ tiền, dễ sản xuất, gọn nhẹ và cơ động. Do vậy, nó chuyên được dùng để oanh tạc các mục tiêu trên diện rộng như đội hình hành quân của bộ binh, các trận địa pháo binh, dãy nhà cửa, công sự của đối phương. Đây là loại pháo phản lực đầu tiên được sản xuất hàng loạt bởi Liên Xô và thường đựoc gắn trên xe tải. Sự cơ động này giúp Katyusha như mọi pháo tự hành khác, có thể pháo kích mục tiêu bởi hỏa lực mạnh mẽ của nó và cơ động đến nơi khác để tránh phản pháo.
Ban đầu, vì vấn đề bí mật nên ngay cả bộ đội vận hành cũng không biết ký hiệu quân sự thật của dàn hỏa tiễn Katyusha. Họ gọi bằng các mật danh như pháo Kostikov, theo tên A. Kostikov, viện trưởng RNII, Viện Nghiên cứu Khoa học về Tên lửa, và sau cùng được xếp vào nhóm Súng cối Cận vệ. Ký hiệu BM-13 chỉ được phép dùng trong tài liệu tuyệt mật từ năm 1942 và vẫn là bí mật cho đến sau chiến tranh.
Do trên phương tiện có sơn chữ K (ý hiệu của Nhà máy Komintern Voronezh), binh sĩ Hồng quân đã đặt cho loại vũ khí này biệt danh “Katyusha”, mượn từ bài hát thời chiến rất nổi tiếng của Mikhail Isakovskyy nói về cô gái nhớ người yêu ra trận. Katyusha là dạng trìu mến của tên Katya; Katya là dạng rút gọn của Yekaterina (tương đương Katherine).
Binh lính Đức đặt cho loại vũ khí này biệt danh “dàn nhạc của Stalin” (Stalinorgel), lấy theo tên lãnh tụ Liên Xô Joseph Stalin. Họ so sánh cụm ống phóng trông như đàn organ ống, còn tiếng động cơ tên lửa phát ra âm thanh rít gào rất đặc trưng, khiến lính Đức khiếp sợ—tạo thêm hiệu ứng tâm lý trong tác chiến. Ở nhiều nước, loại vũ khí này cũng được gọi bằng tên tương tự: Đan Mạch (tiếng Đan Mạch: Stalinorgel), Phần Lan (tiếng Phần Lan: Stalinin urut), Pháp (tiếng Pháp: orgue de Staline), Na Uy (tiếng Na Uy: Stalinorgel), Hà Lan và Bỉ (tiếng Hà Lan: Stalinorgel), Hungary (tiếng Hungary: Sztálinorgona), Tây Ban Nha (tiếng Tây Ban Nha: Órganos de Stalin) cũng như Thụy Điển (tiếng Thụy Điển: Stalinorgel).
Kết cấu của hệ thống tương đối đơn giản: là các giá phóng gồm nhiều ray song song để đặt hỏa tiễn, kèm khung gấp để nâng ray lên góc bắn. Mỗi xe có từ 14 đến 48 ống/phóng. Hỏa tiễn M-13 của hệ thống BM-13 dài khoảng 80 cm (2 ft 7 in), có đường kính 13,2 cm (5,2 in) và nặng 42 kg (93 lb).
Vũ khí này kém chính xác hơn pháo binh thông thường, nhưng lại cực kỳ hiệu quả khi bắn chế áp diện rộng. Một đại đội gồm bốn bệ phóng BM-13 có thể bắn loạt trong 7–10 giây, rải xuống khoảng 4,35 tấn thuốc nổ mạnh trên một khu vực mục tiêu rộng 400.000 mét vuông (4.300.000 foot vuông; 40 ha; 0,40 km2), sức công phá xấp xỉ 72 khẩu pháo dã chiến. Với kíp chiến đấu thuần thục, các bệ phóng có thể cơ động sang vị trí mới ngay sau khi bắn, khiến đối phương khó thực hiện phản pháo. Các cụm Katyusha thường được tập trung với số lượng rất lớn để tạo hiệu ứng choáng lên lực lượng địch. Nhược điểm của loại vũ khí này là thời gian nạp đạn lâu, khác với pháo binh thông thường có thể duy trì tốc độ bắn liên tục (dù ở mức thấp).
Bộ gồm 201 chi tiết.
Sản phẩm sau khi lắp ráp có kích thước 16 cm.









