Bộ xếp hình Xe tăng Tiger 1 quân đội Đức – Thế chiến 2 – 943 chi tiết

374.000 

Tiger I là một loại xe tăng hạng nặng của Đức được sử dụng trong Thế chiến II, được sản xuất từ cuối năm 1942. Tiger I là xe tăng đầu tiên của quân đội Đức được sản xuất hàng loạt có pháo chính là 8.8cm KwK 36

Còn 4 trong kho

Mô tả

CHÚ Ý: SẢN PHẨM ĐƯỢC ĐÓNG GÓI BẰNG TÚI, KHÔNG CÓ HỘP

Tiger I là một loại xe tăng hạng nặng của Đức được sử dụng trong Thế chiến II, được sản xuất từ cuối năm 1942 như một loại tăng dùng để đối đầu với sức kháng cự mạnh đến không ngờ của lực lượng tăng thiết giáp Liên Xô trong những tháng đầu của Chiến dịch Barbarossa, đặc biệt là chiếc T-34 và KV-1. Tiger I là xe tăng đầu tiên của quân đội Đức được sản xuất hàng loạt có pháo chính là 8.8cm KwK 36, vốn trước đó là Flak 36, đã chứng minh tính hiệu quả trong việc chống lại xe tăng đối phương. Trong suốt cuộc thế chiến, Tiger I đã tham chiến trên tất cả các mặt trận của người Đức. Có 1.347 chiếc được chế tạo từ tháng 8 năm 1942 tới tháng 8 năm 1944.

Chiếc xe được đặt tên hiệu “Tiger” bởi Ferdinand Porsche, và số đếm La Mã được thêm vào sau khi loại Tiger II đi vào sản xuất. Tên định danh chính thức ban đầu của Đức là Panzerkampfwagen VI Ausführung H (Panzer VI phiên bản H, viết tắt PzKpfw VI Ausf. H), biến thể của Tiger I ausf H là PzKpfw VI Ausf. E vào tháng 3 năm 1943. Nó cũng có tên định danh kiểm kê là SdKfz181.

Tiger I khác biệt so với những chiếc xe tăng thời kỳ đầu của Đức chủ yếu trong triết lý thiết kế của nó. Những chiếc xe tăng thời trước có độ cân bằng giữa tính cơ động, bảo vệ và hoả lực, và thỉnh thoảng có hoả lực kém hơn các đối thủ. Trong khi đó, Tiger I thể hiện một cách tiếp cận mới của Đức: hy sinh độ cơ động để tăng cường hoả lực và giáp bảo vệ cho xe.

Các cuộc nghiên cứu thiết kế cho một chiếc xe tăng hạng nặng mới đã bắt đầu năm 1937, mà không có bất kỳ kế hoạch sản xuất nào. Động lực cho loại Tiger ra đời chính là từ chất lượng của những chiếc T-34 Liên Xô mà quân đội Đức gặp phải năm 1941. Dù thiết kế chung và cách bố trí hầu như tương tự như chiếc xe tăng hạng trung trước đó là Panzer IV, Tiger nặng hơn gấp đôi. Điều này bởi lớp vỏ giáp rất dày, pháo chính lớn hơn và cùng với đó là dung tích nhiên liệu cùng trọng lượng đạn dược, động cơ lớn hơn, và hệ thống treo và chuyển động chắc chắn hơn. Nói cách khác, Tiger I chính là Panzer IV phóng to ra để có giáp dày hơn và pháo mạnh hơn để hủy diệt những xe tăng T-34 và KV-1 của Liên Xô.

Tiger I có lớp vỏ giáp phía trước thân xe dày tới 100 mm và giáp trước tháp pháo tới 120 mm, so với 80 mm ở giáp trước thân xe và 50 mm ở giáp trước tháp pháo của những phiên bản Panzer IV cùng thời. Nó cũng có các tấm vỏ thân dày tới 60 mm và lớp giáp 80 mm ở cạnh và phía sau cấu trúc thượng tầng, hai bên tháp pháo và phía sau là 80 mm. Lớp giáp phía trên và phía dưới dày 25 mm, từ tháng 3 năm 1944 nóc tháp pháo được tăng bề dày lên tới 40mm. Các tấm giáp phần lớn là phẳng, với kiểu kết cấu cài. Các điểm nối giáp có chất lượng rất tốt, được dập hay hàn vào nhau chứ không phải bằng cách tán rivet.

Nhìn chung, giáp của Tiger I là rất tốt nếu so với những loại xe tăng hạng trung cùng thời, nó có thể chống chọi rất tốt với hỏa lực trên các loại xe tăng hạng trung vào năm 1943 như T-34/76 (mang pháo 76 mm) hoặc M4 Sherman (mang pháo 75 mm). Tuy nhiên, kết cấu vỏ giáp của Tiger I vẫn áp dụng kiểu giáp thẳng đứng cổ điển của những chiếc Panzer IV, do vậy cả xe nặng tới 57 tấn.

Pháo 8,8 cm Kwk 36 L/56 là biến thể được lựa chọn cho chiếc Tiger và, cùng với loại 8,8 cm Kwk 43 L/71 của Tiger II, là một trong những loại pháo có hoả lực đáng sợ và hiệu quả nhất trong Thế chiến II. Pháo của Tiger có kính ngắm Zeiss Turmzielfernrohr TZF-9B có độ phóng đại 2,5x với trường nhìn 25°, chất lượng thấu kính khá tốt, đủ để ngắm bắn chính xác xe tăng địch ở cự ly 1.500 mét. Về sau, những chiếc Tiger I được trang bị kính ngắm một mắt TZF-9C có độ phóng đại 2 chế độ: 2,5x với trường nhìn 28° hoặc 5x với trường nhìn 14°, đây là một trong những loại kính ngắm tốt nhất của xe tăng thời đó. Đối thủ của Tiger I là xe tăng IS-2 của Liên Xô thì được trang bị kính ngắm TSh-17 có tính năng gần tương đương (độ phóng đại 4x với trường nhìn 16°). Trong những cuộc thử nghiệm của Anh, khẩu 88 mm đạt năm lần bắn trúng liên tiếp vào một mục tiêu 16×18 inch từ khoảng cách 1200 yard. Những chiếc Tiger được báo cáo đã hạ các xe tăng đối thủ từ những khoảng cách xa hơn 1,6 km, mặc dù hầu hết các trận đánh trong Thế chiến II đều diễn ra ở những khoảng cách thấp hơn thế nhiều.

Xe tăng Tiger I quá nặng với hầu hết các cây cầu, vì thế nó được thiết kế để có thể đi qua nơi nước sâu bốn mét. Điều này đòi hỏi những cơ cấu phức tạp để thông gió và làm mát khi nó đang lội nước. Chỉ 495 chiếc đầu tiên được trang bị hệ thống lội nước này; tất cả các model sau đó đều chỉ có khả năng lội qua hai mét nước.

Phía sau xe là một khoang động cơ với hai khoang khác ở bên cạnh, mỗi khoang này có bình nhiên liệu, hệ thống tản nhiệt, và các quạt gió. Động cơ xăng là loại 12-xi lanh Maybach HL 210 P45 21 lít với 650 PS (641 hp, 478 kW). Dù là một động cơ tốt, nó vẫn chưa đủ khoẻ cho chiếc xe. Từ chiếc Tiger số 250 trở đi, nó được thay thế bằng loại HL 230 P45 (23 lít) nâng cấp với 700 PS (690 hp, 515 kW). Động cơ hình chữ Vi với hai hàng xi lanh 60 độ. Một bộ phận khởi động quán tính được lắp phía bên phải, dẫn động thông qua các cơ cấu xích qua một cổng ở phía sau xe. Động cơ có thể được nhấc ra qua một cửa sập trên mái thân.

Bộ sản phẩm bao gồm 943 chi tiết.

Sản phẩm sau khi lắp ráp có kích thước:

– Cao: 10,5 cm

– Dài: 26,3 cm