Bộ xếp hình Xe tăng 2 trong 1 Xe tăng Panther – Pháo tự hành Jagdpanther Quân đội Đức Thế chiến 2 WW2 725 chi tiết

309.000 

Panther (Con Báo) là tên một loại xe tăng hạng trung phục vụ cho quân đội Đức Quốc xã từ giữa năm 1943 đến cuối năm 1945.

Còn 1 trong kho

Mô tả

CHÚ Ý: SẢN PHẨM ĐƯỢC ĐÓNG GÓI BẰNG TÚI, KHÔNG CÓ HỘP

Panther (Con Báo) là tên một loại xe tăng hạng trung phục vụ cho quân đội Đức Quốc xã từ giữa năm 1943 đến cuối năm 1945. Nó được thiết kế ra nhằm thay thế cho Panzer III và Panzer IV để làm đối trọng với xe tăng T-34 của Liên Xô. Panther đã hoạt động cho đến tận cuối cuộc chiến cùng với Tiger I. Panther là loại tăng có sự phối hợp tuyệt vời giữa hỏa lực, lớp giáp bảo vệ, động cơ cũng như độ linh hoạt mà ít loại tăng nào trong cuộc thế chiến thứ 2 có thể sánh bằng. Nó có ảnh hưởng không nhỏ sau chiến tranh mặc dù không được áp dụng vào từng chi tiết. Nhiều nhà sử học quân sự cho rằng Panther là một trong những loại xe tăng hiện đại nhất trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai.

Vào năm 1944, nó được đặt tên lại là Panzerkampfwagen V Panther và theo tên kĩ thuật là Sd.Kfz. 171. Ngày 27 tháng 2 năm 1944, Adolf Hitler đã quyết định bỏ số V ra khỏi tên chính thức của Panther vì muốn tỏ ra đây là một loại tăng mới hoàn toàn. Với trọng lượng 45 tấn, Đức phân loại Panther là xe tăng hạng trung, trong khi theo cách phân loại của Mỹ, Anh, Liên Xô thì Panther là một xe tăng hạng nặng.

Trên thực tế, Panther chính là phiên bản xe tăng được phối hợp từ nhiều các loại tăng khác nhau. Nó có động cơ giống như Tiger I, tuy nhiên pháo chính của Panther dài hơn, có độ xuyên giáp và giáp trước nhỉnh hơn chút ít so với Tiger I. Panther có trọng lượng nhẹ hơn nếu tính theo tổng thể và di chuyển nhanh hơn, nó còn có khả năng di chuyển trong các địa hình khác nhau. Pháo nòng dài 75mm của Panther bắn ra loại đạn nhỏ hơn so với pháo 88mm của xe tăng Tiger I, khiến cho sức nổ của đạn yếu hơn, tạo điều kiện cho bộ binh địch tiếp cận xe tăng dễ hơn, nhưng dù sao pháo 75mm của Panther vẫn thực hiện nhiệm vụ khá tốt. Về vỏ giáp, giáp trước Panther nhỉnh hơn chút ít so với Tiger I nhưng giáp hông thì yếu hơn khá nhiều. Điểm yếu nhất của Panther chính là lớp giáp sườn khá mỏng (chỉ có 45mm nghiêng 20 độ) khiến nó dễ bị phá hủy nếu bị bắn trúng vào hông, đặc biệt là trong các trận đấu tăng tầm ngắn.

Panther có chi phí sản xuất rẻ hơn Tiger I và Tiger II nhưng đắt hơn Panzer IV, nó được thiết kế ra nhằm thay thế Panzer IV và cân bằng lại mặt trận với các đối thủ tăng Liên Xô. Ngay sau khi được thiết kế, Panther đã cho kết quả rất tốt trên chiến trường và không lâu sau đó được nhân rộng sản xuất nhiều hơn cả Tiger dù không nhiều bằng Panzer IV. Panther chủ yếu hơn các xe tăng hạng nặng khác của Đức ở chỗ bộ truyền lực, bộ truyền động bằng xích tạo điều kiện cho Panther có tỉ lệ sản xuất cao và ít tốn thời gian. Ngược lại, hệ thống động cơ với công suất cao và hệ thống treo phức tạp lại làm thời gian sản xuất chậm lại nhưng chúng vẫn thực hiện nhiệm vụ của mình khá tốt; lớp giáp bọc khá dày và vũ khí cũng rất mạnh. Chính vì vậy Panther có hiệu quả hơn rất nhiều so với Tiger và Panzer IV. Nhược điểm kĩ thuật duy nhất của nó là bộ phận truyền động bằng xích, mặc dù vấn đề này được đề cập nhiều lần nhưng vẫn chưa bao giờ được sửa chữa.

Xe tăng Panther bắt đầu hoạt động chính thức vào năm 1943, khi Đức Quốc xã cố gắng lấy lại thế cân bằng trên toàn mặt trận. Trong trận vòng cung Kursk, trước khi các vấn đề về bánh răng được sửa chữa, Panther được huy động không nhiều. Sau đó, trên các mặt trận phía Tây và phía Đông từ năm 1943 cho đến cuối cuộc chiến, Panther là một trong những loại tăng chính góp phần bảo vệ lãnh thổ của Đức Quốc xã, nhưng những thành công của nó thường bị hạn chế do sự thiếu hụt về không quân, nhiên liệu và những kíp chiến đấu không được rèn luyện kỹ. Tuy nhiên nó vẫn là một trong những loại xe tăng thành công nhất của người Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai với các ưu điểm về kĩ thuật và vũ khí.

 

Bộ gồm 725 chi tiết.

Sản phẩm sau hoàn thiện có kích thước:

+ Panther: 27,8 cm

+ Jagdpanther: 31 cm