Mô tả
CHÚ Ý: SẢN PHẨM ĐƯỢC ĐÓNG GÓI BẰNG TÚI, KHÔNG CÓ HỘP
Lavochkin S-75 Dvina (tiếng Nga: С-75 Двина; tên ký hiệu của NATO: SA-2 Guideline) là một tổ hợp tên lửa đất đối không (SAM) tầm cao được điều khiển bằng hệ thống ra đa ba tác dụng do Liên Xô chế tạo. Kể từ khi được triển khai lần đầu tiên vào năm 1957, nó đã trở thành loại tên lửa phòng không được triển khai và sử dụng nhiều nhất trong lịch sử. Cho tới nay, đây vẫn là hệ thống tên lửa phòng không đã bắn hạ nhiều máy bay nhất trong lịch sử chiến tranh, với phần lớn thành tích là trong Chiến tranh Việt Nam. Tại Việt Nam, tổ hợp tên lửa phòng không này thường được gọi là SAM-2.
Đầu thập niên 1950, Không quân Hoa Kỳ đẩy mạnh chương trình phát triển máy bay ném bom tầm xa mang theo vũ khí hạt nhân. Chương trình này dẫn đến việc phát triển máy bay Boeing B-47 Stratojet được hỗ trợ bởi máy bay tiếp nhiên liệu trên không để nâng tầm bay tới Liên Xô. Tiếp theo, một chương trình khác đã phát triển pháo đài bay B-52 với tầm hoạt động xa hơn và mang nhiều bom hơn B-47. Tầm hoạt động, tốc độ và khả năng mang bom của những máy bay ném bom này là một đe dọa lớn đối với Liên Xô trong trường hợp xảy ra chiến tranh giữa hai nước. Kết quả là Liên Xô bắt đầu phát triển hệ thống phòng thủ trên không. Mặc dù Liên Xô đã có tương đối nhiều pháo phòng không, kể cả pháo phòng không cỡ lớn dẫn hướng bằng radar (cỡ 100mm và 130mm), nhưng giới hạn của pháo so với máy bay ném bom tầm cao là hiển nhiên. Vì thế, Liên Xô bắt đầu xây dựng hệ thống tên lửa để thay thế hệ thống phòng thủ bằng pháo từ thời Chiến tranh thế giới thứ hai.
Năm 1953, Lavochkin OKB bắt đầu phát triển hệ thống mà sau này trở thành S-75 dưới sự chỉ đạo của Petr Grushin. Chương trình này tập trung vào xây dựng tên lửa để có thể bắn hạ máy bay ném bom cỡ lớn bay ở tầm cao và không có khả năng thực hiện các động tác bẻ ngoặt để đối phó máy bay tiêm kích. Vì vậy, tên lửa không cần phải có khả năng đổi hướng liên tục, chỉ cần đơn giản là nhanh và tránh được các biện pháp chống tên lửa của máy bay. Đối với hệ thống như vậy, nghiên cứu phát triển diễn ra nhanh chóng và thử nghiệm được tiến hành vài năm sau. Năm 1957, lần đầu tiên, công chúng biết được sự hiện diện của S-75 khi tên lửa này được trình diễn trong lễ duyệt binh nhân ngày Quốc tế lao động ở Moskva.
Giữa năm 1958 và 1964, tình báo Hoa Kỳ đã xác định tới hơn 600 trận địa S-75 được triển khai trên toàn lãnh thổ Liên Xô. Các điểm này thường gắn liền với các trung tâm đông dân, khu công nghiệp và trung tâm chính phủ. Một số điểm cũng được triển khai trên các tuyến mà máy bay ném bom có thể bay để tới được trung tâm Liên Xô. Tới giữa thập kỷ 1960, Liên Xô đã kết thúc quá trình triển khai với khoảng 1.000 trận địa.
Ngoài Liên Xô, nhiều tên lửa S-75 cũng được triển khai trong thập niên 1960 ở Đông Đức để bảo vệ lực lượng Xô Viết ở nước này. Sau đó, tên lửa được bán hoặc viện trợ cho hầu hết các nước theo Hiệp ước Warszawa và sau đó là Trung Quốc, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Cuba, Ai Cập, Syria và Việt Nam.
Ngày 27 tháng 3 năm 1965, Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký hiệp nghị viện trợ quân sự; trong đó, Liên Xô viện trợ cho Việt Nam 4,5 cơ số tên lửa S-75 (54 quả) cùng toàn bộ khí tài, trang bị kỹ thuật kèm theo để thành lập 2 trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Sĩ quan Việt Nam được gửi đến Liên Xô để học về hệ thống tên lửa phòng không S-75 và 10 trung tâm huấn luyện của Lực lượng Phòng không Quốc gia (PVO-Strany) được xây dựng ở miền Bắc Việt Nam, trở thành nòng cốt của các trung đoàn tên lửa phòng không mới.
Trong Kháng chiến chống Mỹ, tên lửa S-75 là một trong những vũ khí phòng không chủ lực để bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng và một số yếu địa khác. Ngày 24 tháng 7 năm 1965, các Tiểu đoàn tên lửa 63 và 64 của Trung đoàn tên lửa 236 (Đoàn Sông Đà) trong trận đầu xuất quân có sự tham gia của các tổ chuyên gia Liên Xô do các thiếu tá Boris Mojayev và Ivan Ylinysh hướng dẫn điều khiển, với 3 tên lửa đã bắn rơi tại chỗ một chiếc F-4C của Không lực Hoa Kỳ trên vùng trời Hà Tây – Hòa Bình. Các mảnh văng từ hai quả tên lửa cũng làm hư hại 3 chiếc máy bay F-4 khác.
Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc 1965-1968 và 1972, Liên Xô đã viện trợ cho Việt Nam 95 tiểu đoàn S-75 (mỗi tiểu đoàn có 1 hệ thống gồm 6 bệ phóng) và 7.658 quả tên lửa phòng không. Các đơn vị tên lửa S-75 của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đánh 3.542 trận, trong đó có 588 trận đánh ban đêm; phóng đi 5.885 quả tên lửa (921 quả tên lửa khác bị loại bỏ do trục trặc hoặc hết niên hạn bảo quản); bắn rơi 788 máy bay của không lực Hoa Kỳ, 366 chiếc rơi tại chỗ; trong đó có 43 máy bay B-52; bình quân 7,1 quả đạn diệt được một máy bay.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972, 15 tiểu đoàn tên lửa S-75 bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng đã bắn rơi 27 máy bay B-52. Tuy nhiên, Hoa Kỳ chỉ thừa nhận mất 31 chiếc B-52 trong toàn bộ cuộc chiến, trong đó có 19 chiếc bị S-75 của đối phương bắn hạ (15 chiếc trong số đó bị bắn rơi trong Chiến dịch Linebacker II). Điều này là do có nhiều máy bay Mỹ bị trúng tên lửa hư hại nặng nhưng vẫn quay về được sân bay thì Mỹ không tính là chiếc máy bay đó bị bắn rơi, dù chiếc máy bay đó bị hỏng nặng tới mức không thể sử dụng được nữa.
Bộ sản phẩm bao gồm 255 chi tiết.
Kích thước sản phẩm sau khi lắp ráp: 24 x 9,6 x 13,2 cm








