Bộ xếp hình Máy bay chiến đấu F18 Super Hornet quân đội Mỹ 682 chi tiết

322.000 

McDonnell Douglas F/A-18 Hornet (Ong vò vẽ) là một máy bay phản lực chiến đấu đa nhiệm siêu thanh hai động cơ có khả năng hoạt động trên tàu sân bay trong mọi thời tiết, có khả năng chiến đấu và tấn công các mục tiêu mặt đất.

Còn 1 trong kho

Mô tả

CHÚ Ý: SẢN PHẨM ĐƯỢC ĐÓNG GÓI BẰNG TÚI, KHÔNG CÓ HỘP

McDonnell Douglas F/A-18 Hornet (Ong vò vẽ) là một máy bay phản lực chiến đấu đa nhiệm siêu thanh hai động cơ có khả năng hoạt động trên tàu sân bay trong mọi thời tiết, có khả năng chiến đấu và tấn công các mục tiêu mặt đất (F/A viết tắt của Fighter/Attack – Chiến đấu/tấn công). Do McDonnell Douglas và Northrop Corporation thiết kế, F/A-18 xuất xứ từ mẫu Northrop YF-17 của Northrop trong thập niên 1970 để sử dụng trong Hải quân Hoa Kỳ và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Chiếc Hornet cũng được sử dụng trong lực lượng không quân của nhiều quốc gia.

F/A-18 có tốc độ tối đa Mach 1,8. Nó có thể mang nhiều loại bom và tên lửa, gồm cả tên lửa không đối không và không đối đất cùng một pháo M61 Vulcan 20 mm. Máy bay sử dụng hai động cơ turbin cánh quạt General Electric F404 giúp nó có một tỷ lệ lực đẩy trên trọng lượng cao. F/A-18 có những tính năng khí động lực xuất sắc, chủ yếu nhờ vào các cánh nâng phía trước cánh (LEX). Các vai trò chủ yếu của loại máy bay này là hộ tống, bảo vệ hạm đội, chế áp lực lượng phòng không đối phương (SEAD), ngăn chặn tiếp tế trên không, hỗ trợ gần trên không và trinh sát trên không.

F/A-18 được phát triển từ thiết kế YF-17, ban đầu được chia làm 3 biến thể: máy bay chiến đấu một chỗ ngồi F-18A và máy bay tấn công A-18A, chỉ khác nhau ở hệ thống điện tử; và loại TF-18A hai chỗ ngồi, giữ lại mọi khả năng chiến đấu của F-18 và giảm lượng nhiên liệu. Sau những cải tiến trong hệ thống điện tử và màn hình hiển thị đa chức năng, và một thiết kế lại với những khoang lưu trữ, A-18A và F-18A có thể được phối hợp lại trong một máy bay. Bắt đầu từ năm 1980, chiếc máy bay bắt đầu được gọi là F/A-18A, và tên định danh được chính thức thông báo ngày 1 tháng 4 năm 1984. Chiếc TF-18A được định danh lại là F/A-18B.

McDonnell Douglas xuất xưởng chiếc F/A-18A đầu tiên ngày 13 tháng 9 năm 1978.

F/A-18 lần đầu tham chiến tháng 4 năm 1986, khi những chiếc Hornet của phi đội VFA-131 Hornets từ tàu USS Coral Sea thực hiện các phi vụ SEAD chống lại các lực lượng phòng không Libya trong Chiến dịch Lửa Thảo nguyên và một cuộc tấn công vào Benghazi như một phần của Chiến dịch El Dorado Canyon.

Trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, Hải quân Hoa Kỳ triển khai 106 chiếc F/A-18A/C Hornet và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ triển khai 84 chiếc F/A-18A/C/D Hornet. Cá phi công F/A-18 được công nhận thực hiện hai chiến công trong Chiến tranh Vùng Vịnh, cả hai đều là trước những chiếc MiG-21. Ngày 17 tháng 1, ngày đầu tiên của cuộc chiến, hai phi công của Hải quân Mỹ, Thiếu tá Mark I. Fox cùng người hộ tống, Đại úy Nick Mongilio được điều từ tàu USS Saratoga tại Biển Đỏ tới ném bom một sân bay ở tây nam Iraq. Khi đang trên đường thực hiện nhiệm vụ, họ được một chiếc E-2C cảnh báo về máy bay MiG-21 đang tiếp cận. Những chiếc Hornet đã bắn hạ hai chiếc MiG với các tên lửa AIM-7 và AIM-9 trong một cuộc hỗn chiến ngắn. Những chiếc F/A-18, mỗi chiếc mang bốn quả bom 2.000 lb (910 kg), sau đó tiếp tục thực hiện nhiệm vụ ném bom trước khi quay trở về Saratoga. Khả năng tồn tại của máy bay Hornet đã được chứng minh khi một chiếc Hornet bị bắn trúng cả hai động cơ và bay 125 mi (201 km) quay lại căn cứ. Nó đã được sửa chữa và bay lại trong vài ngày.

 

Bộ gồm 682 chi tiết.

Sản phẩm sau khi lắp ráp có kích thước 41,4 cm.